//]]>

Tưởng Tri - Thức Tri - Tuệ Tri


Tưởng Tri
Tưởng uẩn là sự nhân thức của con người nói chung, Tưởng tri là cái biết của con người bình thường thông qua 5 giác quan.
Phật giáo nói rằng, con người luôn bị vô minh che lấp nên phiền não theo suốt cho hết một cuộc đời mới thôi, chỉ có những ai tu tập, rèn luyện loại bỏ hết các lậu hoặc này (tham, sân, si) thì mới có cái nhín đúng về mọi sự vật hiện tượng trong thế giới thực của con người, ngược lại, nó chỉ là tưởng tri mà thôi:
Những tưởng về "sắc" gọi là tưởng tri.
Thức Tri
Thức tri, chính là sự hiểu biết của mỗi người thông qua sự học hỏi, sự tu tập, sự nghiên cứu.
Người tu tập luôn đặt dấu chấm hỏi:
- Làm thế nào để loại bỏ được tham, sân, si, một con bệnh cố hửu mà bất cứ ai được sinh ra trên thế gian này đều bị mắc phải, được trãi nghiệm!
Chỉ có một cách là cố gắng học chử "vô tham", nó chính là thức tri, nó đánh thức trí tuệ con người vượt qua sự tham dục trong cuộc đời hiện hửu.
- Làm thế nào để loại bỏ được sự gian ác, sự đố kỵ, ganh ghét...?
Chỉ có Tấm lòng: Từ, Bi, Hỷ, Xã;
Hảy học cách làm điều thiện, trước khi muốn vươn tới những hiểu biết sâu xa hơn của cuộc đời này. 
Bài học từ những người khốn khổ sẻ cho chúng ta có tầm nhìn về một thế giới với muôn vàn sự sẻ chia về nỗi bất hạnh không mong muốn của họ. Chúng ta sẻ hiểu được rằng, vật chất chỉ là cái tạm có, nó vô thường, mãi mãi sẻ không tồn tại và không thể mang đi cho đến ngày chúng ta từ biệt thế giới này.
Thức tri, theo cách hiểu của đạo phật là như vậy đó.
Theo đạo phật người có Tri kiến giãi thoát ở đâu thì đạo đức ở đó, đạo đức ở đâu thì tri kiến giãi thoát ở đó. Đạo đức là giới luật là thiện pháp, cách tu tập này được Đức Phật gọi là "Chánh Tâm Giãi Thoát".
Chỉ có bấy nhiêu thôi, lúc này hành giả (người đã tu tập, đã thực hành theo đạo phật được gọi là hành giả, người nghiên cứu các vấn đề ngoài xã hội được gọi là học giả) hảy nhìn lại, hảy trãi nghiệm lại những đối tượng của cuộc đời (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), Hành giả sẻ có một cách nhìn đúng hơn, một sử hiểu biết vượt trội hơn. Dẫu rằng, cái bản chất tham, sân si trong người vẫn còn tồn tại cưa hết hẳn được, nhưng nó đã nhẹ bớt đi, không còn nặng nề như trước đây. Theo thời gian, Hành giả bắt đầu tham thiền, nhập định thì mới mong đoạn tận lậu hoặc nghĩa là không còn Vô minh.
Thức tri là sự hiểu biết của con người thông qua tu tập về Tâm giãi thoát và Tuệ giãi thoát.

Tuệ Tri
Tuệ tri chính là sự hiểu biết của các bậc Thanh văn, người đã thông qua ít nhất là 5 Hạ phần kiết sử và hành thiền (tam thiền hoặc hơn nữa là tứ thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền), có nghĩa là những người đã có được "Lậu Tận Thông" ở một mức độ nào đó, theo cách hiểu của chúng tôi thì Tuệ tri có mặt ở mỗi tầng giãi thoát mà hành giả vượt qua, mà không cần phải chờ đạt được Lậu Tận Minh hay còn gọi là Tam Minh (Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh), ở đây chính là bậc A La Hán.
Hảy lưu ý là, Đức Phật chưa bao giờ nói rằng người thông qua tứ thiền có nghĩa là người đã đạt được Lậu tận Thông hay Lậu Tận Minh. Nhưng, Đức Phật có nói rằng người đã vượt qua được 5 Hạ phần kiết sử thì có nghĩa là thành tựu được tam quả (A na hàm hay Bất lai), với điều kiện là sau đó phải thông qua thiền định (tam thiền) và người đã vượt được 5 Thượng phần Kiết sử thì chưa hẳn trở thành A la hán (Tam minh).
Pháp giãi thoát của phật bao gồm 4 thánh là:
- Thánh giới (5 hạ phần kiết sử)
- Thánh Định (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền)
- Thánh Tuệ (5 thượng phần Kiết sử và đắc tứ thiền)
- Thánh giãi thoát
Thông thường, người đã vượt qua được 5 Hạ phần kiết sử thì hành giả ấy khi muốn tu thiền thì họ sẻ vượt qua nhị thiền, tam thiền cũng không có gì là khó, cho nên chúng tôi mới đề cập cách hiểu "tuệ tri" như ở trên.
Vậy, Tuệ có nghĩa gì? Ðó là hành vi hiểu biết (pajànana) khác với những kiểu tưởng tri (sanjànana) và thức tri (vijànana). Vì mặc dù trạng thái biết cũng có mặt trong tưởng, trong thức, và trong tuệ;
Ta nhận thấy rằng, trong Tưởng chỉ là sự nhận biết một đối tượng, như xanh hay vàng, nó không đem lại sự thấu hiểu sâu xa bản chất của đối tượng ấy là vô thường, khổ, vô ngã. Thức biết được đối tượng là xanh, vàng, v...v... và cũng phát sinh được sự thấu hiểu bản chất, nhưng không phát sinh do tinh cần, sự xuất hiện đạo lộ siêu thế. Tuệ vừa biết đối tượng theo cách đã nói, vừa phát sinh sự thấu hiểu sâu xa, mà vừa đem lại sự thể hiện đạo lộ siêu thế do tinh cần tinh tấn.
Hiểu một cách rốt ráo hơn, muốn đạt được Tuệ Tri thì Hành giả phải đắc Tứ thiền vì theo lời kinh:
Thánh Giới → Thánh Định → Thánh Tuệ → Thánh Giãi thoát.

Ví dụ trong Thanh Tịnh Đạo
Giả sử có ba người, một đứa trẻ không biết gì, một người nhà quê, và một người đổi tiền, cùng thấy một đồng tiền kim loại nằm trên quày của người đổi tiền:
- Ðứa trẻ chỉ biết đồng tiền là có hình vẽ, trang trí, hình dài, vuông hay tròn, song nó không biết những đồng tiền ấy được xem là có giá trị cho con người xử dụng, hưởng thụ. 
- Người nhà quê thì biết chúng có hình, có trang trí, có giá trị cho người hưởng dụng, nhưng không biết phân biệt đồng này thật, đồng này giả, đồng này bằng nửa giá trị, vv. 
- Còn người đổi tiền thì biết tất cả những điều trên bằng cách nhìn đồng tiền, nghe tiếng kêu của nó khi gõ, ngửi, nếm, thử trọng lượng nó trong lòng tay, và biết nó được chế tạo tại làng nào, thành phố, đô thị nào, trên đỉnh núi hay bên bờ sông, do bậc thầy nào làm ra.
Tưởng tri là giống như đứa trẻ không biết gì khi trông thấy đồng tiền, vì nó chỉ thấy cái tướng của đối tượng như màu xanh, vv. 
Thức tri là như người nhà quê trông thấy đồng tiền biết được nó màu gì, và còn đi xa hơn, thấu hiểu những đặc tính của nó. 
Còn tuệ tri là như người đổi tiền thấy đồng tiền biết được màu sắc, vv. mà còn đi xa hơn, đạt đến sự thể hiện đạo lộ.
Nói chung, sự hiểu biết của kẻ phàm phu gọi là tưởng tri, của người biết qua sách vở là thức tri, của bậc thánh hữu học là Thắng tri, của Hành giả đã vượt qua được " Lậu Tận Thông" gọi là Liễu tri, Hành giả đã chứng Tam Minh (Lậu Tận Minh) đươc gọi là Tuệ Tri.

Thức là gì, Thức ở nơi nào trong vũ trụ rộng lớn mà chúng ta đã và đang muốn biết?
Bạn Tuổi Gì ?

Đọc Thêm:
- Trí tuệ là gì?
- Thân tứ đại và ngũ uẩn

Tài liệu tham khảo
- Thanh Tịnh Ðạo
(The Path of Purification - Visuddhimagga )
Luận sư Bhadantacariya Buddhaghosa
Chuyển dịch từ Pàli sang Anh ngữ: Trưởng lão Nanamoli
Chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ: Ns. Trí Hải

- Kinh Nikaya - ND: HT Thích Minh Châu

0 nhận xét: