SẢN LƯỢNG TIỀM NĂNG


Cập nhật 13/4/2018
I. Sản lượng tiềm năng (Yp)
Sản lượng tiềm năng (Yp - Potentional output) là mức sản lượng mà nền kinh tế đạt được tương ứng với mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (Un - natural rate of unemployment) và tỷ lệ lạm phát vừa phải mà nền kinh tế có thể chấp nhận được.
Lưu ý: Sản lượng tiềm năng (Yp) chưa phải là mức sản lượng tối đa, đồng thời nó có khuynh hướng tăng lên theo thời gian (do khả năng sản xuất của nền kinh tế luôn có khuynh hướng tăng lên). Trong thực tế, sản lượng thực tế (Ya) luôn biến động xoay quanh sản lượng tiềm năng Yp nên tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát cũng biến động, tạo ra chu kỳ kinh doanh.
- Khi Ya = Yp: Nghĩa là khi sản lượng thực tế bằng sản lượng tiềm năng, nền kinh tế đạt trạng thái toàn dụng.
- Khi Ya < Yp: Nghĩa là khi sản lượng thực tế nhở hơn sản lượng tiềm năng, nền kinh tế đang trong trạng thái khiếm dụng. Nghĩa là lúc này Ua > Un (thất nghiệp thực tế lớn hơn thất nghiệp tự nhiên). Phần cao hơn (là thất nghiệp chu kỳ) có thể được ước tính theo định luật Okun.
Như vậy, Sản lượng tiềm năng của một nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào, bao gồm vốn (K), lao động (L) và công nghệ (T) sẵn có. Mức sản lượng tiềm năng phản ánh năng lực của nền kinh tế trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho xã hội. Vì vậy, tốc độ tăng trưởng của sản lượng tiềm năng thể hiện mức độ tăng trưởng của nền kinh tế. Sản lượng tiềm năng vẫn tồn tại thất nghiệp, đó là thất nghiệp tự nhiên (Un).

H1: Chu kỳ kinh doanh
Những thăng trầm của chu kỳ kinh doanh được đo bằng những thay đổi trong tổng sản phẩm thực, nói cách khác, chu kỳ kinh doanh (Business cycle) là hiện tượng sản lượng thực dao động lên xuống xung quanh sản lượng tiềm nằng (trong dài hạn).

2. Chu kỳ kinh doanh và sự thiếu hụt sản lượng (hay còn gọi là Lỗ Hổng Sản Lượng )
Các nước phát triển luôn phải đối mặt với sự dao động của Chu kỳ kinh tế (Chu kỳ kinh doanh). Liên quan đến Chu kỳ kinh tế là sự đình trệ sản xuất, thất nghiệp và lạm phát.
Chu kỳ kinh tế chính là sự dao động của GDP thực tế chung quanh sản lượng tiềm năng (H1). Độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là sự thiếu hụt sản lượng.

Thiếu hụt sản lượng
=
Sản lượng thực tế 
-
Sản lượng tiềm năng

Nghiên cứu sự thiếu hụt sản lượng nhằm tìm ra những biện pháp khắc phục độ lệch không mong muốn của chu kỳ kinh tế nhằm ổn định nền kinh tế.
Lỗ hổng GDP là khoảng chênh lệch giữa GDP thực tế (sản lượng thực tế) và GDP tiềm năng.
Công thức tính lỗ hổng sản lượng là Y–Y*
Với Y là sản lượng thực tế, và Y* là sản lượng tiềm năng.
🔹  Ya – Y* > 0 =>  Nó chỉ ra rằng, mức tăng trưởng tổng cầu nhanh hơn tổng cung, có thể dẫn đến lạm phát.
🔹  Ya – Y* < 0 =>  Nó chỉ ra rằng, mức tăng trưởng tổng cầu chậm hơn tổng cung, hay còn gọi là lỗ hổng suy thoái., có thể dẫn đến giảm phát.
Cách tính
Tỷ lệ phần trăm của lỗ hổng GDP tính bằng GDP thực tế trừ GDP tiềm năng và chia cho GDP tiềm năng


2.1. Đặc điểm của chu kỳ kinh doanh:
- Các biến động kinh tế diễn ra bất thường và không thể dự báo
- Các đại lượng kinh tế Vĩ mô biến động cùng nhau
- Sản lượng giảm thì Thất nghiệp tăng

3. Định nghĩa:
Sản lượng tiềm năng có thể được hiểu khi một nền kinh tế có thể vận dụng tất cả nguồn lực của mình như lực lượng lao động, thiết bị, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và những nguồn lực khác được sử dụng đầy đủ; hoặc GDP (GNP) của nền kinh tế có thể đạt được khi áp dụng đúng nguồn lực của mình. Một nền kinh tế sản xuất tại sản lượng tiềm năng có thể được gọi là nền kinh tế có việc làm đầy đủ.
Sản lượng tiềm năng cũng có thể được định nghĩa là mức độ hoạt động của nền kinh tế mà ở đó tổng cầu và tổng cung là phù hợp với một tỷ lệ lạm phát ổn định. Nó được sử dụng bởi các nhà làm chính sách để ước tính lạm phát, và sử dụng nó như là ở một mức sản lượng mà bất kỳ sự tăng hoặc giảm giá là không cần thiết.



4. Ý nghĩa về Sản lượng tiềm năng (Yp)
Khái niệm về sản lượng tiềm năng cũng rất cần thiết cho hoạt động của chính phủ. Trong ngắn hạn, việc đánh giá mức độ dư cầu hoặc dư cung sẽ có tác động của nó đối với chính sách tài khóa. việc đo lường của sản lượng tiềm năng rất hữu ích trong việc tìm ra các yếu tố gây nên tình trạng thất nghiệp, và hỗ trợ trong việc rà soát các nguyên nhân tương ứng. Ngoài ra, chúng còn được sử dụng để lấy các chỉ số như số dư ngân sách chính phủ điều chỉnh theo chu kỳ được sử dụng để đánh giá các chính sách tài khoá.
Sự phát triển của sản lượng tiềm năng là phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố tiềm ẩn; đi đầu trong các yếu tô là các nguồn lực cung ứng của nền kinh tế như vốn, lao động và năng suất. Do đó, sự tăng trưởng sản lượng tiềm năng phản ánh sự phát triển thị trường nhân khẩu và lao động, sự thay đổi trong đầu tư và đổi mới công nghệ.
Sự xuất hiện gần đây của các cuộc khủng hoảng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới cũng đã mang đến những ảnh hưởng về hiệu ứng của sản lượng tiềm năng. Một cuộc khủng hoảng có thể làm giảm sản lượng tiềm năng trong ngắn và trung hạn thông qua tác động bất lợi của nó vào đầu tư giống như một sự tích lũy vốn chậm kết hợp với khả năng kém tăng tốc trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế. Ngoài ra, trong trường hợp của một cuộc suy thoái kéo dài, tình trạng thất nghiệp kéo dài có thể có tác động xấu đến nguồn vốn con người. Để tránh tăng lạm phát, nhà nước phải chấp nhận một mức thất nghiệp đủ cao để lạm phát kỳ vọng bằng với lạm phát thực tế, điều này được gọi là: Tỷ lệ thất nghiệp không gia tăng lạm phát (NAIRU).

5. Định luật Okun:
Cách 1: Trình bày theo Samuelson và Nordhaus:
Khi sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng 2% thì thất nghiệp thực tế sẽ cao hơn tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên là 1%.
Nếu sản lượng thực tế này thấp hơn sản lượng tiềm năng x% thì thất nghiệp thực tế sẽ tăng thêm ∆U= x%/ 2
Công thức: Ut = Un + Yp –(Y/ Yp) *100/2
Cách 2: theo Fischer và Dornbusch
Khi sản lượng thực tế tăng nhanh hơn sản lượng tiềm năng 2,5% thì thất nghiệp thực tế sẽ giảm bớt 1%
Công thức: Ut = Uo – 0,4 (g-p)
-         Ut : Thất nghiệp năm t
-         Uo : Thất nghiệp năm gốc
-         g   : tốc độ tăng của Y
-          p    : tốc độ tăng của Yp

6. Đo lường sản lượng tiềm năng
Nhiều phương pháp đã được phát triển để tính toán sản lượng tiềm năng và sự thiếu hụt của sản lượng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia kinh tế, không có bất kỳ phương pháp nào là thỏa đáng hơn cả. Vấn đề phát sinh từ thực tế là không thể trực tiếp quan sát được, và phải được suy ra từ dữ liệu hiện có thông qua phương pháp thống kê và kinh tế lượng.

7. Mục tiêu cụ thể của Sản lượng tiềm năng
2.1. Mục tiêu sản lượng:
+ Trong ngắn hạn: cần đạt mức sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng Yp.
+ Trong dài hạn: đạt tốc độ tăng trưởng cao và vững chắc, tăng sản lượng tiềm năng Yp.

Kết Luận
➤ Sản lượng tiềm năng là mức sản lượng (GDP) một nền kinh tế có thể sản xuất, ứng với tình trạng công nghệ hiện hữu cho trước, nếu tất cả các nguồn lực của nền kinh tế (lao động và vốn) được sử dụng ở một mức cường độ bền vững. Khi sản lượng thực tế thấp một cách đáng kể so sản lượng tiềm năng, nền kinh tế được gọi là suy thoái; khi sản lượng thực tế cao hơn đáng kể so mức sản lượng tiềm năng, nền kinh tế được gọi là nóng lên. (Trường Chính sách công Fulbright)
Câu chuyện:
Trong thời điểm hiện tại, chúng ta đi uống cà phê, thì giá trung bình một ly là 12000đ →14000đ. Có một ông chủ nhận thấy kinh tế vùng này khá phát triển, người giàu có cũng khá nhiều, ông ta muốn đầu tư cho một quán bán cà phê thật sang trọng, từ chổ ngồi, bàn ghế, ly tách, phong cảnh và cả người phục vụ. Theo tính toán của các chuyên gia, giá ly cà phê từ 35000đ →40000đ là đúng người đúng của (không đắt), có điều:
- Người có đồng lương kém cỏi, thì có muốn vào quán cũng không thể vào được, vì đối với họ nơi đây không phải là chổ để họ đến. Nếu họ có đến uống một đôi lần để cho biết thì những người này không phải là mục tiêu mà người chủ quán hướng đến.
- Người có tiền, có khả năng đến uống cà phê nơi đây mỗi buổi sáng thì lại không nhiều, dưới sự mong đợi (kỳ vọng) của người chủ quán.
- Người có tiền, muốn đến nơi này để thưởng thức ly cà phê vào buối sáng hay những lúc rảnh rổi, nhưng trong thời điểm hiện tại, họ không thể đến đây uống cà phê thường xuyên được vì những lý do khách quan, chẳng hạn như không có thời gian, xa nơi họ làm việc...Những người thuộc nhóm này, người chủ quán nói răng: "Đây là những khách hàng tiềm năng".
➥ Khi trong vùng có những lể hội bất thường, người đến uống cà phê nhiều vô kể (ngoài sự mong đợi) → quán đắt khách (tăng trưởng nóng).
➥ Khi trong vùng có những người khách quen, bổng dưng đi khỏi xứ trong khoảng thời gian ngắn,  người đến uống cà phê quá ít  → quán ế khách (suy thoái).

Đọc thêm: Ôn tập tổng cầu và chính sách tài khóa


Tài liệu tham khảo:
- Chính sách công và Quản lý Fulbright
- http://macroeconomicanalysis.com/macroeconomics-wikipedia/potential-output/
- Thu thập các nguồn khác nhau trên internet

0 nhận xét: