TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG


Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng với chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ khác theo qui định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không nhận tiền gửi dưới một năm.

Các công ty tài chính thu nhận các nguồn vốn bằng cách phát hành tín phiếu công ty (thương phiếu) hay cổ phiếu và trái phiếu hoặc vay từ các ngân hàng, và họ sử dụng tiền thu được để cho vay (thường là những số tiền ít), mà những khoản cho vay này đặc biệt phù hợp với khách hàng và yêu cầu kinh doanh. Chúng ta có thể mô tả qui trình trung gian tài chính của các công ty tài chính bằng cách nói rằng họ vay những số tiền lớn nhưng thường cho vay những số tiền nhỏ – qui trình này hoàn toàn khác với qui trình của các tổ chức ngân hàng, vốn thu nhận tiền ký gởi với số tiền nhỏ và sau đó thường cho vay với số tiền lớn.

Mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng
Ngày 25 tháng 11 năm 2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-NHNN - Nghị định ban hành Danh mục mức vốn pháp định đối với các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
Đây là văn bản hợp nhất 2 nghị định về mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng: Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng và Nghị định số 10/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng.
Theo đó, mức vốn pháp định của:
- Ngân hàng thương mại, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương: 3000 tỷ đồng
- Ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách: 5000 tỷ đồng
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu USD.
- Công ty tài chính: 500 tỷ đồng
- Công ty cho thuê tài chính: 150 tỷ đồng.
- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: 0,1 tỷ đồng.

Phân Loại
Có ba loại công ty tài chính: công ty tài chính bán hàng (sales finance companies), các công ty tài chính tiêu dùng (consumer finance companies), các công ty tài chính kinh doanh (business finance companies).
1. Các công ty tài chính bán hàng (Sale finance companies)
Do các công ty sản xuất và bán hàng làm chủ sở hửu và thực hiện các khoản cho vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của chính công ty, được sở hữu bởi một công ty bán lẻ hay sản xuất công nghiệp và cho người tiêu dùng vay để mua các món hàng từ công ty đó. Thí dụ Sears, Roebuck Acceptance Corporation (Công ty Chấp nhận) tài trợ cho người tiêu dùng mua tất cả hàng hóa và dịch vụ tại các cửa hàng của Sears; General Motors Acceptance Corporation tài trợ cho việc mua xe hơi GM. Các công ty tài chính bán hàng cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng để cho người tiêu dùng vay và thường được người tiêu dùng sử dụng, bởi vì người tiêu dùng thường nhận được các khoản cho vay của các công ty này nhanh hơn và tiện lợi hơn tại địa điểm mua món hàng.
2. Các công ty tài chính tiêu dùng (consumer finance companies)
Thực hiện các khoản vay cho khách hàng mua các loại hàng hóa cụ thể hay giúp đở chi trả hay để giúp tài trợ các khoản nợ nhỏ. Các công ty tài chính tiêu dùng là các công ty tách biệt (giống như Household Finance Corporation) hay được các ngân hàng sở hữu (Citigroup sở hữu Person-to-Person Finance Company, công ty này có các văn phòng hoạt động trên toàn quốc). Thường thì các công ty này cung cấp các khoản vay cho những người tiêu dùng không thể nhận được tín dụng từ các nguồn khác và tính lãi suất cao hơn. 
3. Các công ty tài chính kinh doanh (business finance companies)
Chuyên cung cấp các dạng tín dụng chuyên biệt cho các doanh nghiệp bằng cách cho vay và mua các khoản phải thu (các hóa đơn còn nợ doanh nghiệp) với một mức chiết khấu; việc cung cấp tín dụng như thế này được gọi là bao thanh toán (factoring). Thí dụ, một doanh nghiệp may quần áo phụ nữ có thể có các hóa đơn chưa được thanh toán (các khoản phải thu) là 100.000 đô la do các cửa hàng bán lẻ còn nợ, các cửa hàng này đã mua áo quần của doanh nghiệp may nói trên. Nếu doanh nghiệp may này cần tiền mặt để mua 100 máy may mới, doanh nghiệp này có thể bán các khoản phải thu của mình với giá thí dụ như 90.000 đô la cho một công ty tài chính. Công ty tài chính này bây giờ có quyền thu 100.000 đô la mà người ta còn nợ doanh nghiệp may nói trên. Ngoài việc bao thanh toán, các công ty tài chính kinh doanh cũng chuyên môn hóa vào việc cho thuê thiết bị theo hợp đồng (như xe lửa, máy bay phản lực, và máy tính), họ mua những thiết bị này và sau đó cho các doanh nghiệp thuê trong một số năm định trước.

Hedge Funds (Quỹ tự bảo hiểm rủi ro) 
Ở Mỹ, Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro (hedge funds) là một loại quỹ hỗ tương đặc biệt với tài sản tổng cộng ước lượng là hơn 500 tỷ đô la. Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro gần đây đã được quan tâm đáng kể do cú sốc đối với hệ thống tài chính, là hậu quả của tình trạng gần như sụp đổ của Long–Term Capital Management (quỹ Quản lý Vốn Dài hạn), quỹ này có lúc đã là một trong những quỹ tự bảo hiểm rủi ro quan trọng nhất (Hộp 3). Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro nổi tiếng nhất bao gồm Moore Capital Management và the Quantum group of funds gắn kết với George Soros. Giống như các quỹ hỗ tương, các quỹ tự bảo hiểm rủi ro tích góp tiền từ nhiều người và đầu tư nhân danh quỹ, nhưng có nhiều đặc điểm phân biệt các quỹ này với các quỹ hỗ tương truyền thống.
Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro có yêu cầu về đầu tư tối thiểu trong khoảng từ 100.000 đô la đến 20 triệu đô la, với khoản đầu tư tối thiểu tiêu biểu là một triệu đô la. Quỹ Quản lý Vốn Dài hạn đòi hỏi khoản đầu tư tối thiểu là 10 triệu đô la. Luật liên bang hạn chế các quỹ tự bảo hiểm rủi ro không được có nhiều hơn 99 nhà đầu tư (hội viên trách nhiệm hữu hạn), những người này phải có thu nhập hàng năm ổn định là 200.000 đô la hoặc nhiều hơn hay giá trị tài sản ròng là 1 triệu đô la, không kể giá trị nhà ở của họ. Những hạn chế này nhằm mục đích cho phép các quỹ tự bảo hiểm rủi ro gần như không bị điều tiết, dựa trên lý thuyết cho rằng người giàu có thể tự lo lấy thân. Nhiều trong số 4.000 quỹ tự bảo hiểm rủi ro được đặt ở hải ngoại để tránh các qui định hạn chế của các cơ quan quản lý. Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro cũng khác với các quỹ hỗ tương truyền thống ở điểm các quỹ này thường đòi hỏi các nhà đầu tư để tiền của họ trong quỹ trong những thời gian dài, thường là vài năm. Mục đích của yêu cầu này là cho các nhà quản lý đủ chỗ thoải mái để theo đuổi các chiến lược dài hạn. Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro cũng thường tính phí cao đối với các nhà đầu tư. Quỹ thông thường tính phí hàng năm là 1% trên tài sản quỹ quản lý cộng với 20% lợi nhuận, và một số quỹ còn tính phí cao hơn đáng kể. Thí dụ quỹ Long – Term Capital tính các nhà đầu tư phí quản lý tài sản là 2% và thu nhận 25% lợi nhuận. Thuật ngữ hedge fund (quỹ tự bảo hiểm rủi ro) rất dễ gây hiểu lầm, bởi vì chữ “hedge” thường chỉ các chiến lược tránh rủi ro. Như việc gần như thất bại của Long – Term Capital chứng tỏ, bất chấp danh xưng bằng tiếng Anh là quỹ tự bảo hiểm tránh rủi ro, các quỹ này có thể và thực sự chấp nhận các rủi ro lớn. Nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro tham gia vào các chiến lược được gọi là các chiến lược “trung dung với thị trường”, trong đó họ mua một chứng khoán, ví dụ một trái phiếu, mà chứng khoán này có vẻ rẻ và họ bán một số lượng tương đương của một chứng khoán tương tự mà dường như được định giá cao. Nếu các lãi suất tính chung tăng hay giảm, thì quỹ này cũng đã được tự bảo hiểm rủi ro, bởi vì sự sụt giảm giá trị của chứng khoán này được bù đắp bởi sự gia tăng giá trị của chứng khoán kia. Tuy nhiên, quỹ này đang đầu cơ dựa trên vấn đề liệu chênh lệch giữa giá của hai chứng khoán nói trên có thay đổi theo hướng đã được các nhà quản lý quỹ tiên đoán hay không. Nếu đánh cuộc sai, quỹ này có thể mất nhiều tiền, đặc biệt khi nó đã sử dụng đòn bẩy vay nợ để giữ các vị thế của mình; nghĩa là quỹ này đã vay nợ rất nhiều dựa trên các vị thế này đến nổi phần vốn cổ phần của quỹ thật là nhỏ so với qui mô danh mục đầu tư của nó. Khi quỹ Long – Term Capital được giải cứu, quỹ này có đòn bẩy vay nợ là 50 trên 1; nghĩa là tài sản lớn gấp năm mươi lần vốn cổ phần (vốn sở hữu chủ) và thậm chí trước khi quỹ này gặp rắc rối, đòn bẩy vay nợ của nó là 20 trên 1.



Tài liệu tham khảo:
http://business.gov.vn/
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

0 nhận xét: