KHOA HỌC KINH TẾ VÀ CÁC TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ



Lý thuyết kinh tế là môn khoa học từ khi nó trở thành một hệ thống kiến thức về các quy luật, nguyên tắc, phương pháp, có khả năng phản ánh và điều hành sự phát triển kinh tế và xã hội.
Từ khi con người biết cách buôn bán, trao đổi hàng hóa thì lý thuyết kinh tế sơ khai đã bắt đầu hình thành. Bắt đầu từ hộ gia đình tiếp đến là cộng đồng dân cư và xa hơn nữa là thương mại không biên giới, mỗi thời đại có một cách nhìn riêng, và nói chung sự kế thừa luôn là kinh nghiệm để đời cho các thế hệ mai sau.

Chủ nghĩa trọng thương
Trường phái kinh tế đầu tiên là chủ nghĩa trọng thương (Mercantilism) mà người đại diện của nó là Antuan Moncretien với tác phẩm “Luận bàn về kinh tế chính trị” (1615) đã đưa khái niệm này vào tập hợp thuật ngữ khoa học. Khoa học kinh tế đầu tiên phát triển từ kinh tế chính trị, tuy cuối thế kỷ 19 ở phương Tây thuật ngữ kinh tế chính trị (Political economy) đã được thay bằng thuật ngữ kinh tế học (Economics), đồng thời với sự xuất hiện nhiều học thuyết kinh tế tách các quan hệ chính trị-xã hội ra khỏi đối tượng nghiên cứu, đề xuất những phương pháp mới không liên quan đến thuyết giá trị về lao động hay quyền lợi giai cấp. Chủ nghĩa trọng thương là một học thuyết kinh tế nở rộ vào thời gian từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 trong các cuộc đàm đạo chính sự, giữa những thương gia và chính khách. Theo chủ nghĩa này thì của cải của quốc gia nên phụ thuộc vào vàng và bạc. Các quốc gia không có sẵn mỏ vàng/bạc có thể vẫn sở hữu vàng/bạc thông qua thương mại bằng cách bán hàng hóa ra nước ngoài và hạn chế nhập khẩu hàng hóa, trừ vàng/bạc. Học thuyết kêu gọi nên nhập khẩu nguyên liệu thô về để chế biến và xuất khẩu lại ra nước ngoài, và chính phủ nên đánh thuế vào hàng hóa đã chế tạo nhập khẩu từ nước ngoài cũng như cấm chế tạo hàng hóa ở các thuộc địa.

Trường phái trọng nông (Physiocrats)
Chủ nghĩa trọng nông, một nhóm các học giả và các nhà lý luận người Pháp vào thế kỷ 18, đã phát triển một quan điểm xem nền kinh tế như một vòng luân chuyển của thu nhập và đầu ra; họ cho rằng lĩnh vực quan trọng của kinh tế là sản xuất chứ không phải thương mại. Người đứng đầu khuynh hướng này là François Quesnay. Trong “Biểu đồ kinh tế” của mình ông phân tích quá trình tái sản xuất xã hội và phân phối sản phẩm xã hội giữa ba thành phần giai cấp: người sản xuất, chủ đất và người phi sản xuất. Như vậy trường phái cổ điển đã chuyển hướng nghiên cứu từ lĩnh vực thương mại sang lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất, xây dựng nền móng cho thuyết giá trị về lao động. 

Trường phái Cổ điển (Classical School)
Phát triển thật sự của kinh tế học bắt đầu từ trường phái cổ điển. Những công trình khoa học của những nhà kinh tế học đại diện trường phái này như “Luận bàn về thuế” (1662) của William Petty, “Biểu đồ kinh tế” (1758) của François Quesnay, “Nguyên lý kinh tế chính trị và áp thuế” (1817) của David Ricardo.
Trường phái lý thuyết kinh tế học cổ điển Nỗi bật với công trình vĩ đại của Adam Smith được xuất bản năm 1776 dưới tên “Của cải của các quốc gia” (The Wealth of Nations).
Cuốn sách xem đất đai, lao động, và vốn như là ba nhân tố đầu vào trong quá trình sản xuất và đóng góp chính cho tài sản của một quốc gia. Theo quan điểm của Smith, nền kinh tế lý tưởng là hệ thống thị trường tự điều chỉnh một cách tự động làm thỏa mãn các nhu cầu kinh tế của công chúng.
Ông mô tả cơ chế thị trường (market mechanism) như một “bàn tay vô hình” (invisible hand) dẫn dắt hành động của tất cả các cá nhân, khi theo đuổi lợi ích cá nhân của bản thân mình, vô hình tạo ra lợi ích lớn nhất cho toàn xã hội. Smith hợp nhất một số ý tưởng của trường phái trọng nông, bao gồm cả chính sách tự do kinh doanh (laissez-faire), vào lý thuyết kinh tế của ông, nhưng bác bỏ ý tưởng cho rằng chỉ có nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.
Trong khi Adam Smith nhấn mạnh thu nhập từ sản xuất, David Ricardo tập lại trung vào việc phân phối thu nhập giữa địa chủ, công nhân, và nhà tư bản. Ricardo đã nhận thấy sự xung đột lợi ích giữa một bên là địa chủ và nông điền và một bên là công nhân và nhà tư bản. Ông thừa nhận rằng sự tăng trưởng dân số và vốn, gây áp lực đối lập với nguồn cung đất cố định, đẩy giá thuê lên cao và làm giảm tiền lương và lợi nhuận.
Thomas Robert Malthus sử dụng ý tưởng quy luật lợi tức giảm dần (diminishing returns) để giải thích cho các chuẩn mức sống (living standards) thấp. Ông lập luận rằng, dân số, có xu hướng tăng lên theo cấp số nhân (increased geometrically), vượt xa mức sản xuất thực phẩm, gia tăng theo cấp số cộng (increased arithmetically). Áp lực gia tăng dân số nhanh đối mặt với một số lượng đất đai hạn chế, nghĩa là lợi tức giảm dần theo lao động. Kết quả là, ông cho rằng, tiền lương phải luôn giữ ở mức thấp, duy trì mức sống tối thiểu (the standard of living) cho phần lớn dân số ở mức độ đủ sống (subsistence level).
Malthus cũng đặt câu hỏi về xu hướng tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường tạo ra việc làm đầy đủ. Ông cho rằng thất nghiệp xảy ra khi xu hướng của nền kinh tế hạn chế chi tiêu và tiết kiệm quá nhiều, một chủ đề bị lãng quên cho đến khi John Maynard Keynes đem ra soi xét lại trong những năm 1930.

Kinh tế học Mác-xít (Marxist School)
Kinh tế chính trị Marx-Lenin được trình bày trong các tác phẩm lý luận như: “Tư bản” (Karl Marx), “Chống Duyring” (F. Engels), “Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” (V.I.Lenin). Trên cơ sở phân tích sự phát triển chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn lịch sử của nó Marx đã phát triển và củng cố thuyết giá trị về lao động và xây dựng thuyết giá trị thặng dư, thuyết tích lũy và chuyển động tư bản, chỉ ra cơ chế vận động và mâu thuẫn trong xã hội tư sản.

Trường phái Keynesian (Keynesian School)
Trường phái Keynesian xuất hiện trong thập niên 30 của thế kỷ 20 do nhà kinh tế lỗi lạc John Maynard Keynes sáng lập như một khuynh hướng độc lập với trường phái tân cổ điển. Tác phẩm “Lý thuyết cơ bản về việc làm, phần trăm và tiền tệ” của Keynes đưa ra những phương pháp điều chỉnh kinh tế từ phía nhà nước nhằm giảm mức thất nghiệp, dùng các công cụ tài chính để làm tăng hiệu quả lượng cầu hàng hóa, tăng tỷ lệ tiêu dùng.
Vào nửa đầu thập niên 50 thế kỷ 20 trường phái Tân Keynesian tiếp nhận những quan điểm cơ bản của Keynes và trình bày lý thuyết tốc độ và yếu tố tăng trưởng, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế. Những công trình nghiên cứu của R. Harrod, E. Domar, E. Hansen tập trung vào vấn đề kết hợp hiệu quả các yếu tố, làm sao trong điều kiện cạnh tranh tự do có thể tăng lượng sản xuất và giảm tối thiểu chi phí lao động và vốn.
Lập luận của Keynes minh chứng cho cơ sở hợp lý của việc sử dụng chi tiêu chính phủ và thuế để ổn định nền kinh tế. Chính phủ sẽ gia tăng chi tiêu và giảm thuế khi tiêu dùng cá nhân là không đủ và một cuộc suy thoái đe dọa; Hoặc là sẽ giảm chi tiêu và tăng thuế khi tiêu dùng cá nhân là quá lớn và lạm phát đe dọa. Khung phân tích của ông, tập trung vào các yếu tố xác định tổng chi tiêu (total spending), vẫn là cốt lõi của phân tích kinh tế vĩ mô hiện đại.

Trường phái tân cổ điển (Neo-Classical)
Với học thuyết tự do kinh doanh còn phục hưng trở lại ở thập niên 70-80 với chủ nghĩa tiền tệ. Đứng đầu học thuyết này là M. Fridman, F. Hayek, cho rằng tiền tệ và lưu thông tiền tệ là công cụ hiệu quả của điều chỉnh và tự điều chỉnh thị trường, có khả năng đảm bảo ổn định và phát triển phi khủng hoảng kinh tế.
Quan điểm về sự kết hợp giữa điều hòa sản xuất khu vực nhà nước với kích thích tự do thị trường là khuynh hướng của chủ nghĩa tổng hợp do J. R. Hiks, P. Samuelson và những người khác lập nên trong những năm gần đây.
Các học thuyết kinh tế ra đời từ các trường phái hay khuynh hướng nổi tiếng như trường phái Áo, trường phái Chicago, trường phái Freiburg, trường phái Lausanne và trường phái Stockholm.

 Trường phái Chicago (Chicago School)
Tên để chỉ các nhà kinh tế học có chung 4 niềm tin cơ bản sau. Thứ nhât, họ tin rằng kinh tế học là (hoặc có thể là ) không giá trị theo cách tương tự như các ngành khoa học vật lý.
Thứ hai, họ tin rằng lý thuyết giá cả Tân cổ điển là một lý giải chính xác về cách thức hoạt động của các hệ thống kinh tế.
Thứ ba, họ tin rằng sự hoạt động của thị trường cạnh tranh, tự do là giải pháp khả dĩ nhất cho vấn đề phân bổ các nguồn lực.
Cuối cùng, họ là những người trung thành vững vàng với CHỦ NGHĨA TRỌNG TIỀN. 
Tất cả những điều này đưa họ đến chỗ ủng hộ sự can thiệp hạn chế của chính phủ vào hệ tống kinh tế. Tên gọi này bắt nguồn từ thực tế là nhiều thành viên nổi bật của "trường phái" này (ví dụ  FRIEDMAN, KNIGHT, SCHULTZ và STIGLER) đã gắn bó với trường đại học Chicago.

Tổng hợp News

0 nhận xét: