QUY TẮC XUẤT XỨ THEO HÀM LƯỢNG KHU VỰC RVC TRONG TPP



1. Lời Mở Đầu
Mỗi hiệp định FTA đều có quy tắc xuất xứ riêng để bảo tính trung thực của hàng hóa xuất và nhập khẩu. Nêú hàng hóa đáp ứng các quy tắc xuất xứ sẽ được hưởng các ưu đãi thuế quan của các nước thành viên dành cho. Tính đến năm 2015, Việt Nam đã ký kết và thực hiện 8 Hiệp định khu vực thương mại tự do (FTA), Hơn 30 hiệp định thương mại khu vực (RTA) đang có hiệu lực liên quan đến khu vực Đông Á, và mới đây (4/2/2016) là hiệp định TPP.


Trong các điều khoản của Hiệp định thì Quy tắc xuất xứ là chương gây nhiều tranh cải nhất và những nước đang phát triển là những nước bị thiệt thòi nhất trong ma trận của hàng rào “khoa học kỹ thuật”. Bỡi vì Quy tắc xuất xứ quyết định một sản phẩm có được ưu đãi hay không? Chỉ mỗi cụm từ “có” hoặc “không” thì các Doanh Nghiệp đã xác định được kết quả là “lãi” hay “lỗ” cho DN mình rồi! 
Các nước đang phát triển là những nước phát triển không đồng bộ về tay nghề, cũng như kinh nghiệm còn yếu trong quá trình hội nhập, hơn nữa các sản phẩm ở các nước đang phát triển (trước khi được chuyển giao) nhiều khi phải trông cậy vào nhiều đối tác ở nhiều nước khác nhau mới hoàn thiện được theo yêu cầu, do vậy những rào càn không lường trước trong Hiệp định luôn là một vấn đề mà lợi thế thường nghiêng về những đối tác mạnh hơn về tiềm lực Tài Chính, kỹ thuật nỗi trội trong tất cả các khâu xuất, nhập khẩu về một sản phẩm hiện hành.
Cho dù vì bất cứ lý do gì thì Quy tắc xuất xứ luôn là thực đơn khai vị trong mỗi một hiệp đồng chuyển giao, là điều kiện cần và đủ trong chính sách thương mại đa phương mà các nhà chuyên môn phải bõ công nghiên cứu.

2. Những điều cơ bản về quy tắc xuất xứ
Trong thương mại quốc tế, quy tắc xuất xứ hàng hóa là tập hợp các quy định nhằm xác định quốc gia nào được coi là đã sản xuất ra hàng hóa (nước xuất xứ của hàng hóa). 
Trong nhiều trường hợp, các nước nhập khẩu cần biết xuất xứ hàng hóa nhập khẩu để xác định quy chế đặc biệt áp dụng cho hàng hóa đó.
Quy tắc xuất xứ nhằm xác định sự hợp lệ của hàng nhập khẩu để được hưởng mức thuế ưu đãi. Nếu không có quy tắc xuất xứ, hiện tượng thương mại chệch hướng (trade deflection) sẽ rất khó ngăn chặn được khi hàng hóa nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA sẽ vào khu vực FTA thông qua nước thành viên áp dụng mức thuế thấp nhất đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA.
Các loại quy tắc xuất xứ đều dựa trên hai tiêu chí xác định nguồn gốc hàng hóa: tiêu chí xuất xứ thuần túy WO (Wholly Obtained) và tiêu chí chuyển đổi cơ bản ST (Substantial Transformation).
Tiêu chí xuất xứ thuần túy quy định hàng hóa sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ một nước thành viên xuất khẩu duy nhất (xuất xứ nội địa hoàn toàn) được xác định có xuất xứ.
Tiêu chí chuyển đổi cơ bản xác định hàng hóa xuất xứ trong trường hợp quá trình chuyển đổi xảy ra tại một quốc gia hoặc khu vực. Việc xác định nguồn gốc khá phức tạp vì các bộ phận, phụ tùng của sản phẩm sản xuất tại nhiều quốc gia hoặc có nguyên vật liệu đầu vào không rõ xuất xứ.

2.1. Quy tắc xuất xứ trong TPP
Xuất xứ hàng hóa là nơi mà quốc gia, vùng lãnh thổ sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa. Tại thời điểm làm thủ tục nhập khẩu, người nhập khẩu phải nộp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá Mẫu D cho cơ quan Hải quan nước nhập khẩu, tờ khai, các chứng từ chứng minh và các tài liệu khác theo quy định của pháp luật nước thành viên nhập khẩu. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá Mẫu D (C/O) phải là người xuất khẩu, nhà sản xuất, người đại diện có giấy ủy quyền hợp pháp của người xuất khẩu hoặc nhà sản xuất.
Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong TPP được hiểu là: các sản phẩm xuất khẩu từ một thành viên của TPP sang các thành viên khác đều phải có xuất xứ “nội khối”. Như vậy, những ngành nào, sản phẩm nào, sử dụng các nguyên liệu của các nước thứ ba, ngoài thành viên TPP đều không được hưởng các ưu đãi thuế suất 0%. 
Theo các điều khoản trong TPP thì:
Một hàng hóa được xem là có xuất xứ nếu hàng hóa đó:
- Thu được hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên như quy định tại Điều 3.3 (Hàng hoá có xuất xứ thuần túy);
(b) được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên và hoàn toàn từ các nguyên liệu có xuất xứ; hoặc
(c) được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên sử dụng nguyên liệu không có xuất xứ với điều kiện hàng hóa thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu có hiệu lực tại Phụ lục 3-D (Quy tắc xuất xứ cụ thể theo mặt hàng)
2.2. Hàm lượng giá trị khu vực (RVC) trong TPP
RVC là hàm lượng giá trị khu vực (regional value content) của hàng hóa tính theo công thức và không nhỏ hơn tỷ lệ phần trăm quy định và công đoạn sản xuất cuối cùng được thực hiện tại một nước thành viên.
Công thức Phương pháp trực tiếp và Phương pháp gián tiếp chỉ áp dụng cho các FTA trở về trước, còn theo hiệp định TPP thì Hàm lượng giá trị khu vực (RVC) trong Chương 3, điều 3.5 được tính như sau:
a, Phương pháp giá trị tập trung: dựa trên giá trị nguyên liệu không có xuất xứ được nêu:


RVC
=
Gt hàng hóa - FVNM
x
100
GT hàng hóa
b, Phương pháp “build-up”: dựa trên giá trị nguyên liệu không có xuất xứ

RVC
=
GT hàng hóa - VNM
x
1100
Giá trị hàng hóa
c, Phương pháp “build-up”: dựa trên giá trị nguyên liệu có xuất xứ

RVC
=
VOM
x
100
Giá trị hàng hóa
d, Phương pháp chi phí ròng (chỉ áp dụng cho ô tô)

RVC
=
NC - VNM
x
100
NC
RVC là hàm lượng giá trị khu vực (regional value content) của hàng hóa, tính bằng phần trăm;
VNM là giá trị của nguyên liệu không có xuất xứ (value of non-originating materials) , bao gồm nguyên liệu không rõ xuất xứ, sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hóa;
NC là chi phí ròng (net cost) của hàng hóa được xác định theo điều 3.9 (Chi phí ròng);
FVNM là giá trị nguyên liệu không có xuất xứ, bao gồm cả nguyên liệu không rõ nguồn gốc quy định trong quy tắc cụ thể theo sản phẩm tại Phụ lục 3-D (Quy tắc xuất xứ cụ thể theo mặt hàng) và được sử dụng trong quá trình sản xuất ra hàng hóa đó. Để giải thích rõ hơn, nguyên liệu không có xuất xứ không được nêu trong quy tắc cụ thể theo sản phẩm tại Phụ lục 3-D (Quy tắc xuất xứ cụ thể theo mặt hàng) không được dùng để xác định FVNM; và
VOM là giá trị của các nguyên liệu có xuất xứ (value of originating materials) được sử dụng trong quá trình sản xuất ra hàng hóa đó trong lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên.
Mỗi Bên quy định rằng tất cả các chi phí cho việc tính toán hàm lượng giá trị khu vực được hạch toán và duy trì theo nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung áp dụng trong lãnh thổ của Bên sản xuất ra hàng hóa đó.
2.3. So Sánh Quy tắc xuất xứ hàng hóa FTA và TPP
Trước đây theo quy tắc xuất xứ hàng hóa trong hiệp định thương mại tự do FTA, chúng ta chỉ phải đáp ứng quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa. Chẳng hạn, để sản xuất được Hạt Điều xuất khẩu thì chúng ta được phép nhập khẩu tất cả các nguyên phụ liệu mà không trùng với mã HS của loại Hạt Điều đó, từ bên ngoài khu vực mậu dịch tự do. Tuy nhiên, trong hiệp định TPP này lại có thêm quy định về hàm lượng giá trị khu vực với điều kiện hàm lượng giá trị khu vực (RVC) được tính trực tiếp, gián tiếp, chi phí tịnh hay giá trị tập trung với hàm lượng RVC từ 30% -> 55% tùy theo các mặt hàng cụ thể được ghi rỏ trong phụ lục 3 D của hiệp định.
Chẳng hạn theo cách tính trước đây RVC 40% nghĩa là hàm lượng giá trị khu vực của hàng hoá không nhỏ hơn 40% tính theo giá trị FOB

2.4. Một ví dụ về kiểu quy định xuất xứ chỉ dựa trên RVC trong một FTA của Hoa Kỳ:
Quy định:
“Đối với hàng hóa thuộc các tiểu mục từ 7324.10 đến 7324.29: 
Không yêu cầu phải có sự chuyển đổi dòng thuế với điều kiện là trị giá hàm lượng nội địa không được thấp hơn:
(a) 35% nếu sử dụng phương pháp tính hàm lượng kiểu build-up;
(b) 45% nếu sử dụng phương pháp tính hàm lượng kiểu build-down.
Giải nghĩa:
Với quy tắc này, hàng hóa có mã HS từ 7324.10 đến 7324.29 được xem là “có xuất xứ” nếu hàng hóa đó được sản xuất từ các nguyên liệu thỏa mãn điều kiện trị giá nội địa/vùng không thấp hơn:
(a) 35% nếu sử dụng phương pháp build-up;
(b) 45% nếu sử dụng phương pháp build-down.
2.5. Một số điểm lưu ý so với các FTA Việt Nam đã ký trước đây.
a. Về quy tắc xuất xứ
- Quy tắc xuất xứ cho mặt hàng tân trang (remanufactured goods): cho phép sử dụng các nguyên phụ liệu thu được từ việc tháo dỡ hàng đã qua sử dụng, xử lý, làm sạch đưa về điều kiện hoạt động tốt được coi là nguyên phụ liệu có xuất xứ (không cần đáp ứng PSR) nếu được dùng để lắp ráp, sản xuất hàng tân trang. 
- Quy tắc bộ hàng hóa: áp dụng cho bộ hàng hóa phân loại theo Quy tắc 3 (c) của Quy tắc chung của diễn giải của Hệ thống hài hòa với linh hoạt cho phép hàng hóa không có xuất xứ trong bộ chiếm 10% trị giá của bộ hàng hóa. 
- Linh hoạt sử dụng giá FOB thay cho giá CIF khi tính trị giá nguyên vật liệu không có xuất xứ trong cách tính gián tiếp khi tính hàm lượng giá trị khu vực (RVC) giúp doanh nghiệp dễ đạt RVC hơn. 
- Cách tính RVC: ngoài cách tính trực tiếp và gián tiếp, doanh nghiệp có thêm cách tính trị giá tập trung (có thêm linh hoạt nhất định) và cách tính theo chi phí tịnh (chỉ áp dụng đối với ô tô và phụ tùng ô tô).
- Loại trừ áp dụng De Minimis với một số nguyên phụ liệu sử dụng để sản xuất mặt hàng bơ sữa, mặt hàng có chứa bơ sữa, một số loại nước ép hoa quả , một số loại dầu ăn. 

b. Về thủ tục chứng nhận xuất xứ 
- Cho phép người xuất khẩu, người sản xuất và người nhập khẩu được tự chứng nhận xuất xứ. 
- Do tự chứng nhận xuất xứ còn mới mẻ nên để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý từng bước tiếp cận với cơ chế mới, tận dụng lợi thế của FTA nên: 
(i) Đối với hàng nhập khẩu, Việt Nam và một số nước bảo lưu chỉ áp dụng hình thức nhà nhập khẩu tự chứng nhận xuất xứ sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. 
(ii) Đối với hàng xuất khẩu, có thể áp dụng song song 2 hình thức sau trong thời gian tối đa là 10 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với Việt Nam: (a) cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) theo kiểu truyền thống và (b) người xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ. Sau thời gian 10 năm này, sẽ áp dụng tự chứng nhận xuất xứ hoàn toàn như các nước. 

c. Về quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng 
- Mặt hàng hóa chất, xăng dầu ngoài quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa có thêm lựa chọn áp dụng các quy tắc khác như: phản ứng hóa học, tách đồng phân, thay đổi kích hạt, nguyên vật liệu tiêu chuẩn, tinh chế, phối trộn trực tiếp, chưng chất, pha loãng … 
- Giày dép: quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa khá linh hoạt, cho phép sử dụng không giới hạn nguyên phụ liệu nằm ngoài Chương 64 (giày dép) nhập khẩu bên ngoài TPP để sản xuất giày xuất khẩu. 
- Đối với nhóm mặt hàng nông lâm thủy sản: 
(i) Đối với hàng thủy sản: cho phép sử dụng con giống nhập khẩu bên ngoài TPP
(ii) Quy tắc xuất xứ cho một số mặt hàng cụ thể như sau: 
Cá ngừ: Cá ngừ là mặt hàng nhạy cảm với Nhật Bản, Hoa Kỳ và Mê-xi-cô nên QTXX cá ngừ hướng đến kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng cá ngừ nguyên liệu bên ngoài TPP (Nhật Bản lo ngại về nguồn gốc cá ngừ đánh bắt có hợp pháp hay không; Hoa Kỳ lo ngại cá ngừ của nước thứ ba có cơ hội gia tăng thị phần trên thị trường Hoa Kỳ thông qua chế biến tại một nước TPP). QTXX cho cá ngừ đòi hỏi gần như xuất xứ thuần túy của TPP. 
Tôm, cua: Tôm, cua chế biến được phép sử dụng nguyên liệu bên ngoài TPP. 
Cà phê: 
+ Cà phê đã rang có linh hoạt nhất định, được sử dụng nguyên liệu cà phê chưa rang bên ngoài TPP tới 60% khối lượng nguyên liệu sử dụng để chế biến hàng hóa. 
+ Cà phê hòa tan được sử dụng nguyên liệu không hạn chế bên ngoài TPP 
Chè: chè xanh chưa ủ men đóng gói sẵn trọng lượng không quá 3kg có thêm quy tắc linh hoạt hàm lượng giá trị khu vực 40%
Hạt điều: mặt hàng xuất khẩu thế mạnh là điều đã bóc vỏ đạt được quy tắc linh hoạt cho phép sử dụng nguyên liệu bên ngoài TPP, tạo linh hoạt cho doanh nghiệp xuất khẩu điều của Việt Nam. 

d. Về quy tắc xuất xứ đối với ô tô và phụ tùng
Về cơ bản quy tắc xuất xứ cho ô tô và phụ tùng ô tô gồm 3 nội dung chính: 
(i) Quy tắc xuất xứ cho ô tô nguyên chiếc (thuộc nhóm 8701.10 đến 8701.30 và 8702 đến 8705): áp dụng quy tắc hàm lượng giá trị khu vực (RVC) 55% theo cách tính gián tiếp hoặc 45% theo cách tính chi phí tịnh đi kèm linh hoạt khi xác định xuất xứ cho 7 phụ tùng (gồm thân xe, kính, ba-đờ-xốc, cầu chủ động có vi sai và các trục không lái …). 7 phụ tùng này không cần đáp ứng PSR (quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng), chỉ cần được sản xuất tại TPP, được sử dụng các nguyên phụ liệu không giới hạn bên ngoài TPP trong quá trình sản xuất và vượt quá một số công đoạn gia công (có quy định cụ thể các công đoạn gia công này) là được coi có xuất xứ TPP và được cộng vào RVC cho ô tô thành phẩm. 
(ii) Quy tắc xuất xứ cho các bộ phận chính gồm động cơ, hộp số, bộ phận lái, hệ thống giảm chấn, phanh… là RVC 55% (theo cách tính gián tiếp) hoặc 45% theo cách tính chi phí tịnh với linh hoạt cho phép sử dụng nguyên phụ liệu bên ngoài TPP chiếm 5-10% trị giá thành phẩm (tùy từng bộ phận), chỉ cần các bộ phận kể trên được sản xuất tại TPP và vượt qua một số công đoạn gia công. 
(iii) Quy tắc xuất xứ cho các bộ phận khác: RVC 40% hoặc quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa. 

3. Kết Luận
Như vậy theo hiệp định TPP trong phụ lục 3D thì:
Hàng hóa có xuất xứ nếu được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên bởi một hoặc nhiều người sản xuất sử dụng nguyên phụ liệu không có xuất xứ, và: 
(a) Mỗi nguyên phụ liệu không có xuất xứ được sử dụng để sản xuất hàng hóa phải đáp ứng quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa, hoặc hàng hóa mặt khác đáp ứng các quy trình sản xuất cụ thể, hàm lượng giá trị khu vực, hoặc bất kỳ quy tắc nào khác được nêu trong Phụ lục 3 D. 
(b) Hàng hóa đáp ứng tất cả các quy định khác của Chương 3 (Quy tắc xuất xứ và thủ tục chứng nhận xuất xứ). 
(c) Quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa chỉ áp dụng cho nguyên phụ liệu không có xuất xứ; 
(d)  Hàm lượng giá trị khu vực (RVC)
Về cách tính hàm lượng giá trị khu vực như đã đề cập ở trên,  theo cách tính Build-up thì dựa theo nguyên liệu có xuất xứ và nguyên liệu không có xuất xứ (TPP).
1. Trong khi theo cách tính của các FTA trước đây thì tính hàm lượng giá trị khu vực theo phương pháp build-up, cách tính trực tiếp, có nghĩa là chỉ tính hàm lượng giá trị các nguyên liệu có xuất xứ từ các nước thành viên của Hiệp định. Công thức theo phương pháp này như sau: 
RVC = VOM/AVx100%.
2. Cách thứ hai là phương pháp build-down, đó là cách tính gián tiếp, công thức là: 
RVC= (AV-VNM)/AVx100%. 
Trong hai công thức này RVC là hàm lượng giá trị khu vực tính theo tỷ lệ phần trăm, VOM là trị giá phần nguyên liệu có xuất xứ sử dụng để sản xuất sản phẩm đó, AV là giá trị hàng hóa đã được điều chỉnh loại trừ các chi phí phát sinh do quá trình vận tải bảo hiểm và các dịch vụ có liên quan với vận tải quốc tế của hàng hóa từ nước xuất khẩu tới địa điểm nhập khẩu (tương ứng với giá FOB của hàng hóa), VNM là trị giá phần nguyên vật liệu không có xuất xứ sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó
Trong cách tính của RVC trong TPP hiện nay và các FTA trước đây còn nhiều vấn đề để bàn cải, hạ hồi chúng ta sẻ phân giãi vậy.


Tài liệu tham khảo:
-http:// tpp.moit.gov.vn/
- Trung tâm VCCI
- http://trungtamwto.vn/tpp/

0 nhận xét: